Giới thiệu
Hồi nhỏ đến giờ, trong mâm cơm nhà tôi lúc nào cũng phải có chén nước mắm Nam Ô nguyên chất. Với tôi, nước mắm Nam Ô không chỉ là một món gia vị, mà nó là cái hồn, là cái vị quê hương rất riêng dưới chân đèo Hải Vân mà không nơi nào có được. Làng nghề này đã có từ mấy trăm năm trước và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nên tôi thấy rất xứng đáng để nằm trong Top 100 Điểm chạm Đà Nẵng.
Điểm làm nên cái hay của mắm Nam Ô chính là sự tỉ mỉ, kiên nhẫn của các cô chú. Mắm ở đây làm hoàn toàn thủ công. Cá phải là cá cơm than tươi rói, người ta đi biển đánh về tầm tháng Ba âm lịch, lúc đó con cá mập và béo nhất. Còn muối thì phải chọn muối hạt từ Sa Huỳnh hay Cà Ná, mang về đổ vào kho cất cả năm trời cho chảy hết cái vị chát, vị đắng đi, chỉ giữ lại vị mặn thanh. Sau đó, cá với muối được trộn đều rồi ủ ròng rã trong những chiếc chum gỗ mít hoặc chum sành suốt từ 12 đến 18 tháng trời mới cho ra được một mẻ mắm.
Nếu ai có dịp ghé thăm làng nghề, bước chân vào sân nhà ai cũng thấy những hàng chum xếp san sát nhau. Không gian lúc nào cũng thơm nồng mùi mắm chín. Đến đây, mình sẽ được tận mắt thấy những giọt nước mắm cốt đầu tiên màu đỏ hổ phách, sóng sánh rất đẹp. Nhấm thử một chút xíu thôi, đầu lưỡi sẽ thấy vị mặn đậm đà trước, rồi ngay sau đó là vị ngọt hậu rất sâu của cá chín tự nhiên, chứ không hề có mùi hóa chất hay chất bảo quản như mắm công nghiệp bây giờ.
Tôi đề xuất "Trải nghiệm làm nước mắm truyền thống Nam Ô" vì muốn nhiều người biết đến nét đẹp lao động và làng nghề trăm tuổi này hơn. Việc đưa làng nghề vào danh sách không chỉ giúp các hộ dân giữ được cái nghề của cha ông, có thêm thu nhập từ du lịch, mà còn giúp du khách phương xa khi đến Đà Nẵng có một chỗ trải nghiệm thật sự mộc mạc, chân thực và hiểu sâu hơn về văn hóa đất Quảng.